Tuesday, December 18, 2012

Phương Đông Màu Đỏ #16: Leslie Trương Quốc Vinh

Tựa gốc & link: The East is Red #16 – Leslie Cheung Kwok-wing
Được viết ngày: 27/11/2010
Người dịch: whitedaisy @ dienanh.net



Hãy hỏi bất kỳ fan mê phim kinh dị nào của Mỹ hay châu Âu ai là ngôi sao chuyên trị phim kinh dị họ yêu thích, và ngay lập tức họ sẽ đưa ra một danh sách dài đủ tất cả từ các ngôi sao kinh điển của hãng Universal (Lugosi, Karloff) cho đến các nữ hoàng la hét trong các phim hạng B (Brinke Stevens, Linnea Quigley) . Fan mê các thước phim vàng sẫm da bò của Mexico có thể sẽ đề cập đến German Robles hay Abel Salazar. Nhưng thử hỏi bất cứ người xem phim châu Á nào xem, và đừng ngạc nhiên khi bạn nhận về những cái nhìn khó hiểu, bởi vì dường như khái niệm các ngôi sao kinh dị không tồn tạo ở bất cứ nơi đâu giữa các ngành công nghiệp điện ảnh tại mảnh đất châu Á này.


Có rất nhiều lý do dẫn đến thực tế trên. Phim Trung Quốc, Nhật và Nam Hàn vốn luân chuyển thường xuyên hơn – một bộ phim có thể là sự kết hợp của nhiều thể loại như khoa học viễn tưởng, cực kỳ đẫm máu và châm biếm xã hội (TOKYO GORE POLICE), hoặc kết hợp giữa hành động, kinh dị, lãng mạn và một chút siêu nhiêu thần thoại (SWORDSMAN 2). Và có lẽ bởi vì nguồn nhân tài không dồi dào (ví dụ như Hong Kong, cho dù cuối những năm 80 nó đã sản xuất hơn 400 phim một năm) nên các diễn viên thường không bị giới hạn ở một lãnh địa nhất định. Có lẽ họ cũng chưa bao giờ làm nhiều phim kinh dị như chúng ta (người Mỹ). Hoặc cũng có thể vì họ không cần đến các tên tuổi phải là những ngôi sao chuyên trị phim kinh dị mới thu hút được khán giả.


Một trong những ưu thế của câu chuyện này là các diễn viên hàng top của châu Á – những người đã đoạt các giải thưởng uy tín cho những thể loại chính kịch tâm lý phức tạp, hay các thiên sử thi hùng vĩ – cũng tham gia vào lãnh địa của các bộ phim rùng rợn, u ám, ly kỳ, giật gân này (khác với phương Tây dù thành công lớn đến đâu, rất hiếm khi các diễn viên chuyên trị phim kinh dị nhận được sự công nhận từ giới chuyên môn trừ đặc lệ phim Hitchcock, và các ngôi sao hàng top cũng không thích đóng phim kinh dị). Lấy một ví dụ như sự nghiệp của nam diễn viên quá cố Leslie Trương Quốc Vinh. Nếu các bạn nghĩ ngôi sao lớn nhất trong vòng 20 năm qua tại châu Á là Châu Nhuận Phát, Lý Liên Kiệt hay thậm chí là Thành Long, vậy thì nghĩ lại đi. Trương không chỉ là ngôi sao nhạc pop lớn mạnh nhất của Hong Kong trong vòng 20 năm qua (đôi khi anh ấy vẫn được gọi là “Elvis của châu Á”), anh còn là một nam diễn viên đỉnh cao. Trong bảng danh sách top 100 phim Hong Kong, 4 trong 5 bộ phim dẫn đầu đều có mặt của Leslie Trương Quốc Vinh; anh ấy được đề cử và đã thắng hàng tá giải thưởng điện ảnh châu Á, trở thành diễn viên Hong Kong đầu tiên tham gia vào một bộ phim của Trung Quốc Đại Lục (tác phẩm FAREWELL MY CONCUBINE của Trần Khải Ca, đã giúp anh trở thành một ngôi sao tầm quốc tế), và anh cũng đã hợp tác với gần như mọi đạo diễn xuất sắc nhất của Hong Kong, bao gồm Ngô Vũ Sâm, Từ Khắc, Quan Cẩm Bằng, và Vương Gia Vệ. Trong làng điện ảnh và âm nhạc của Hong Kong anh được biết đến với cái nickname giản dị “Gor-gor”, nghĩa là “anh trai”.




Phim A Chinese Ghost Story 1987 (Thiện nữ u hồn)

Năm 1987, Trương Quốc Vinh đã giành được vai diễn chính trong bộ phim A CHINESE GHOST STORY, đạo diễn bởi Trình Tiểu Đông và do Từ Khắc sản xuất. Bộ phim này không nghi ngờ gì là tác phẩm kinh dị nổi tiếng nhất mà Hong Kong từng làm. Trong bầu không khí thần thoại cổ trang u tối, Trương diễn vai Ninh Thái Thần, một anh chàng thu thuế nghèo hậu đậu không tiền bạc buộc phải trú chân tại một ngôi miếu hoang, nơi mà tình cờ may mắn anh thoát khỏi bàn tay của những xác chết di động và cuối cùng gặp Nhiếp Tiểu Thiện, một hồn ma thiếu nữ xinh đẹp. Sau đó anh cầu viện một kiếm sĩ đang ở ẩn, Yên Xích Hà, để giúp anh tiêu diệt tên yêu thụ ngàn năm đang nắm giữ hồn của Tiểu Thiện, cuối cùng họ giải thoát cô để cô có cơ hội được đầu thai chuyển kiếp. Trên cuộc hành trình này có một con ma cây với chiếc lưỡi khổng lồ hung hãn, một tiểu đình đầy cảm xúc tình yêu, và một chuyến mạo hiểm đi xuống địa ngục.

Trong A CHINESE GHOST STORY, Trương ngọt ngào, một chút ngốc nghếch, thật thà, và dễ dàng hoảng sợ; gương mặt ngây ngất của anh khi anh nhận được nụ hôn đầu (dưới nước) từ Nhiếp Tiểu Thiện xinh đẹp (do Vương Tổ Hiền diễn) đã gần như minh chứng anh là một thiên tài hài hước. Vai diễn Ninh Thái Thần của anh so với điện ảnh phương Tây mà nói khó mà tìm được đồng dạng tương ứng.




Phim Rouge 1988 (Yên chi khâu)

Sang năm sau chúng ta lại thấy Trương lần nữa, xuất hiện trong một phim ma hoàn toàn khác: ROUGE của Quan Cẩm Bằng. ROUGE, kể lại một chuyện tình kinh hãi giữa một thiếu gia giàu có (Trương Quốc Vinh) và một kỹ nữ tài mạo (nghệ sĩ quá cố xuất sắc Mai Diễm Phương). Đây không hẳn là phim kinh dị, nhưng nó mượn vỏ bọc của câu chuyện ma để nói về sự điêu tàn của một thời đã qua. Trương Quốc Vinh quyến rũ, lừ đừ và suy đồi trong ROUGE, hoàn toàn khác hẳn hình ảnh Ninh Thái Thần ngây thơ dịu dàng, một sự biến hóa tương phản ấn tượng mà một người diễn viên có thể đạt tới.




Phim The Bride With White Hair 1993 (Bạch phát ma nữ truyện)

Năm 1993, Trương Quốc Vinh khắc họa một tay kiếm sĩ cộc cằn, tóc tai xõa xượi trong bộ phim kinh dị/thần thoại gây sững sờ của Vu Nhân Thái: THE BRIDE WITH WHITE HAIR, bên cạnh nữ minh tinh Lâm Thanh Hà, cô cũng chính là cô gái đã làm nên hiện tượng rúng động cùng với vai diễn Đông Phương Bất Bại trong SWORDSMAN 2 của Từ Khắc. Trong BRIDE, Lâm diễn vai một thiếu nữ được đàn sói nuôi dưỡng từ nhỏ và được đào tạo để trở thành một cỗ máy giết người. Trong phim có rất nhiều phân cảnh điên rồ bạo lực, như khi cô gái sói chẻ thân đám lính tráng ra thành hàng chục mảnh chỉ bằng một cây roi da. Nhưng khi nàng chạm trán Trác Nhất Hàng của Trương Quốc Vinh, bộ phim biến thành một câu chuyện tình thê lệ bi tráng (và cũng rất gợi tình).


Click this bar to view the original image of 800x522px.


Phim The Phantom Lover 1995 (Dạ bán ca thanh)

Hai năm sau, Trương Quốc Vinh lại bắt tay cùng Vu Nhân Thái khi anh thủ diễn Tống Đan Bình trong THE PHANTOM LOVER, một bản phim làm lại của bộ phim kinh dị kinh điển Trung Quốc năm 1937 SONG AT MIDNIGHT, mà bản thân nó cũng đồng thời là một chuyển thể của vở kịch THE PHANTOM OF THE OPERA. Lần này Trương phải đóng vai một quái vật, một Tống Đan Bình đáng sợ ám ảnh cả nhà hát lớn. Diễn xuất của Trương – cũng giống như màn khắc họa trứ danh của Michael Crawford trên sân khấu năm nào trong vai “bóng ma” - với những xúc động thống thiết mà cũng không thiếu những khoảnh khắc làm lạnh sống lưng.


Hai vai diễn kinh dị điển hình nhất của Trương Quốc Vinh lại xuất hiện vào giai đoạn cuối sự nghiệp của anh, hai bộ phim đều được đạo diễn bởi La Chí Lương (cộng sự lâu năm của Nhĩ Đông Thăng): DOUBLE TAP năm 2000 và INNER SENSES năm 2002. Trong DOUBLE TAP cuối cùng Trương cũng trở nên điên loạn: cao thủ bắn súng Rick Pang, bậc thầy của những cú nã “double tap” liên hoàn, một thuật ngữ để chỉ khả năng bắn một lúc hai viên đạn đều trúng vào cùng một điểm. Sau khi Rick bị dồn vào thế phải giết người để tự vệ và bảo vệ đám đông, người dân xung quanh thành phố Hong Kong bắt đầu lần lượt chết, tất cả đều là nạn nhân của “double tap”. Rick sớm dấn thân vào một trò chơi mèo vờn chuột cùng với Miu, một cảnh sát được xem là người duy nhất đồng đẳng với Rick về tài nghệ bắn súng. Trong giai đoạn này Trương đã cho ra mắt những tác phẩm như HAPPY TOGETHER của Vương Gia Vệ – anh diễn vai một người tình đồng tính tự yêu bản thân, và THE KID – anh diễn một người đàn ông trẻ nghèo, đầy lòng trắc ẩn nhận nuôi một đứa bé bị bỏ rơi. Với vai Rick Pang, anh đã làm nên một màn trình diễn dữ dội và gây hãi hùng.



Phim Double Tap 2000 (Thương Vương)


INNER SENSES là bộ phim cuối cùng, một dấu chấm u sầu trầm tư gây xôn xao dư luận cho sự nghiệp của Trương Quốc Vinh. Trương đóng vai bác sĩ Jim Law, một nhà tâm lý tận tụy và trẻ tuổi không tin vào chuyện ma quỷ, mãi cho đến khi anh gặp Yan (Lâm Gia Hân đóng), một cô gái trẻ luôn khẳng định là mình nhìn thấy ma. Bộ phim này đã bóc trần những niềm tin vào các hiện tượng siêu nhiên của con người, nhưng không chỉ thế, nó còn đi vào khám phá tâm trí của con người, những nỗi ám ảnh có thể tạo thành kết quả còn kinh hoàng hơn các hiện tượng ma quái gấp trăm lần. Jim Law chữa được bệnh cho Yan, nhưng rồi chính anh cũng không chống trả nổi trước những bóng ma của quá khứ. Ở đây Trương đã làm nên một màn diễn xuất với cường độ xúc cảm chấn động (anh được đề cử hạng mục Nam Diễn Viên Xuất Sắc Nhất từ vô số giải thưởng điện ảnh châu Á) , và bộ phim này không nghi ngờ gì là một trong những tác phẩm thú vị nhất, nổi bật trên nền phim ma châu Á trong thời kỳ phát triển thịnh vượng của những năm 2000s.

INNER SENSES, tuy thế, lại trở nên nổi tiếng bởi những lý do buồn thảm hơn rất nhiều (xin thứ lỗi, vì sau đây sẽ là một tiết lộ lớn đối với những ai chưa được xem phim): Cảnh cuối phim Jim Law đứng chênh vênh nơi mép rìa của một tòa nhà cao chọc trời, tuyệt vọng và rã rời, anh đã hét lên “Tôi chưa bao giờ tìm được thanh thản”. Trong cuộc sống thực, Leslie Trương Quốc Vinh cũng rơi xuống từ tầng 24 của một tòa cao ốc Hong Kong vào ngày 1 tháng Tư, 2003, để lại một mảnh di thư với chữ “Trầm cảm”; ở tuổi 46 anh vẫn là một trong những ngôi sao tươi đẹp và mê hoặc nhất của Hong Kong, và sự ra đi đột ngột này của anh đã khiến cả châu Á bàng hoàng. Các fan ái mộ Trương, rất nhanh chóng, đã liên hệ những thời khắc cuối cùng trên phim với những khoảnh khắc cuối cùng của anh trên nhân thế. Hồi tưởng lại, đó thật sự là những trải nghiệm đau đớn khi nhìn thấy những gì xảy ra trên màn ảnh của INNER SENSES, và hãy tưởng tượng những cơn kích động tinh thần nguyên chất ấy đã lan tỏa màn ảnh và bao phủ lấy trái tim của khán giả như thế nào.


Trong cùng một sự nghiệp bao gồm những màn diễn xuất được ca ngợi rộng rãi như A BETTER TOMORROW của Ngô Vũ Sâm, DAYS OF BEING WILD và ASHES OF TIME của Vương Gia Vệ, tác phẩm hạt giống Làn Sóng Mới NOMAD của Đàm Gia Minh, bộ phim hài vặn vẹo giới tính HE'S A WOMAN HE'S A MAN của Trần Khả Tân, Leslie Trương Quốc Vinh đồng thời đã diễn một quái vật, một kẻ tâm thần, một con người theo chủ nghĩa hoài nghi, một nạn nhân, và một người anh hùng kiên định. Điện ảnh châu Á có thể không có Christopher Lee, không có Evelyn Ankers, không có Robert Englund... nhưng với những ngôi sao như Trương Quốc Vinh biến chuyển linh hoạt nhẹ nhàng từ thể loại kinh dị qua đến chính kịch, hài, bi kịch rồi lại quay trở về kinh dị, các bộ phim cũng không hẳn bị đối xử tệ bạc.

Monday, December 17, 2012

( 1953) Madame de...../ The earrings of Madame de.....

Một bộ phim làm theo thể loại drama của đạo diễn Max Ophuls. Phim kể về một phụ nữ ( Danielle Darrieux) xinh đẹp, duyên dáng song lại hời hợt. Tình cảm nàng dành cho chồng chẳng hơn là bao so với những món nữ trang của nàng: nàng đã giấu đôi hoa tai bằng kim cương do chồng mua tặng nhân lễ kết hôn đem đi cầm hòng trang trải cho những khoản nợ nần vì bài bạc của mình. Để rồi khi nàng gặp và yêu nam tước Donati (Vittorio De Sica) và nhận được 1 món quà do ông tặng. Món quà kia không gì khác hơn, chính là đôi hoa tai kim cương đó. Từ đó trở đi, người thiếu phụ hết sức nâng niu đôi hoa tai như thể đó chính là hình bóng người yêu mình. Nàng hầu như không thể sống nếu thiếu nó: món quà của người nàng yêu và cũng chính là kỷ vật của cuộc đời nàng. Mọi việc lên đến đỉnh điểm khi nàng quyết định hy sinh cả danh dự và lòng kiêu hãnh của mình - mang lên người đôi hoa tai kim cương. Sự việc dần bại lộ, chồng nàng (General Andre - Charles Boyer) biết được việc ấy, ông quyết định đấu súng với nam tước Donati. Người thiếu phụ, bị tước đoạt đi tình yêu lẫn kỷ vật cả đời nàng, tuyệt vọng, đau buồn đến phát ốm và qua đời.

"Luôn có 1 thứ trục đẩy vô hình gắn kết toàn thể bộ phim lại với nhau, tất thảy những hành động, diễn biến trong phim đều liên tục xoay quanh nó.....như trò chơi kéo quân vậy. Và chiếc trục đó là 1 vật thể bé xíu nhưng trân quý: đôi hoa tai kim cương!" - Max Ophuls.

Đánh giá:

Bộ phim nhận được nhiều lời bình luận trái chiều khi vừa công chiếu. Nhưng rồi, qua thời gian, nó được nhìn nhận như một kiệt tác. Phim được ca ngợi bởi chuyển động máy quay vô cùng mượt mà, tinh tế, phong cách thanh nhã uyển chuyển của nó. Nhà bình phim danh tiếng Andrew Sarris gọi nó là "bộ phim hoàn hảo nhất từng được làm ra". Derek Malcolm đánh giá: " Madame de....là ví dụ tiêu biểu nhất cho sự hoàn hảo của quá trình dựng phim, không hề vấp phải 1 sai sót nào trong suốt 2 tiếng đồng hồ.....cả bộ phim như 1 công trình khảo cứu tráng lệ, tỉ mỉ và bất biến theo thời gian về tình yêu, niềm đam mê mãnh liệt, về trò chơi ái tình và cả cuộc đời"

Source: wikipedia.com



(1928) Spione/Spy



Directed byFritz Lang
Produced byErich Pommer
Written byFritz Lang
Thea von Harbou
StarringRudolf Klein-Rogge
Gerda Maurus
Willy Fritsch
Georg John
Music byWerner R. Heymann
CinematographyFritz Arno Wagner
Release date(s)
  • March 22, 1928
Running time178 min.
CountryWeimar Republic
LanguageSilent film
Germanintertitles

Spione – một bộ phim câm thể loại suspense, được viết kịch bản và đạo diễn bởi Fritz Lang vào năm 1928. vợ Fritz Lang- Thea von Harbou đồng viết kịch bản với ông. Spione là bộ phim câm cuối cùng bởi Lang, và là tác phấm đầu tiên làm ra bởi công ty sản xuất phim riêng của ông: Fritz Lang-film GmbH. Cũng như những bộ phim trứớc đây về Dr. Mabuse, Rudolf Klein Rogge tiếp tục hợp tác cùng Lang trong vai 1 tên tội phạm cấp cao với ý đồ thống trị thế giới.


Nội dung:

Nữ điệp viên xinh đẹp nguời Nga Sonja Baranikowa (Gerda Maurus) tìm cách tiếp cận và quyến rũ đại tá Jellusis (Fritz Rasp) hòng xui giục anh phản bội đất nước, cung cấp thông tin cho ông chủ cô: Haghi-nhìn bề ngoài là một vị giám đốc ngân hàng khả kính, thực chất là 1 tên tội phạm cực kì nguy hiểm, cầm đầu một tổ chức tội phạm hùng mạnh. Sonja về sau lại nảy sinh tình cảm với Jellusis. Kế hoạch của Haghi bẳt đầu bị đe dọa, hắn tìm cách trừ khử Jellusis…….
được chỉ đạo bởi đạo diễn bậc thầy Fritz Lang, Spione là một bộ phim tuyệt vời đề tài tội phạm. Tương tự như các bộ phim trước đó của Lang, bao trùm lên toàn phim là một bầu không khí hoang mang, tăm tối, đầy ám ảnh. Phim được cho là lấy cảm hứng từ tờ London times trong khoảng những năm 1920 nói về cuộc đột kích Arcos: Scotland Yard đã bất ngờ tấn oông và vây ráp công ty thương mại All Russians Co-operative Society, hay còn gọi tắt là Arcos.


Một số hình ảnh trong phim:










Source: wikipedia.com

(1951) The River/Le Fleuve/ A pure masterpiece

THE RIVER



Đạo diễn: Jean Renoir
Sản xuất: Kenneth McEldowney, Jean Renoir
Nguyên tác: Rumer Godden (tiểu thuyết), Jean Renoir
Diễn viên chính: Nora Swinburne
Esmond Knight
Arthur Shields
Suprova Mukerjee
Radha Burnier
River Le
Âm nhạc: M. A. Partha Sarathy
Quay phim: Claude Renoir
Biên tập: George Gale
Phân phối: United Artists
Ngày ra mắt: 10 September 1951
Thời lượng: 99 min.
Quốc gia: France / India / USA
Ngôn ngữ: English / Bengali


Nội dung chính:

Ba cô gái trẻ gốc Anh quốc nhưng lại đuợc nuôi dưỡng, giáo dục tại Ấn Độ. Họ lớn lên bên dòng sông Bengal, nơi mà họ cùng trải nghiệm những mối rung động đầu đời và rồi chính thức từ giã thời niên thiếu, bước chân vào lứa tuổi trưởng thành.

Phim được thuật lại dưới lời kể của Harriet (Patricia Walters), một trong ba cô gái. Harriet là con gái trong một gia đình thượng lưu nguời Anh sinh sống tại Ấn Độ. Cô bé còn có 5 cô em gái và một cậu em trai Bogey (Richard.R.Foster) - rất có hứng thú với các loài vật có vảy, về sau cậu bị giết chết bởi một con rắn hổ mang. Harriet cùng với 2 cô bạn Melaine và Valerie đều thầm thương trộm nhớ Captain John, người vừa mới đến Ấn Độ cách đó không lâu. 

Đánh giá:

Bộ phim màu đầu tiên của Jean Renoir, hoàn toàn được quay tại Ấn Độ, thực sự là một kì tích về mặt hiệu ứng thị giác. Dựa trên tiểu thuyết bởi Rumer Godden, bộ phim như một sự tương phản hùng hồn giữa một bên là nỗi đau âm ỉ của ba cô gái trẻ đặt cạnh bên dòng chảy bất biến của dòng Bengal linh thiêng, qua đó đời sống thường ngày cùng những tâm sự riêng tư của họ dần dần được hé mở. Được làm giàu thêm bởi vốn hiểu biết phong phú cùng với lòng cảm kích dành cho văn hóa và người dân Ấn Độ, The River đã khai phá một cách khéo léo mối tuơng quan mong manh giữa những mối rung cảm bất chợt và sự sáng tạo bất diệt. 

Harriet



Melaine



Captain John & Valerie



Nguồn: dịch và tổng hợp.



Nhận xét về "The River", nhà phê bình Andre Bazin nhận định như sau:

"Khả năng tập hợp các dữ liệu riêng lẻ và tái tạo chúng thông qua trí tưởng tượng của Renoir thật đáng kinh ngạc, thậm chí còn có phần vượt trội hơn cả The rules of the game. Duy có điều thành quả lớn nhất của Renoir lần này nằm ở phần kĩ thuật - khác rất nhiều so với những bộ phim ông làm trước năm 1939. Với phần dựng phim linh họat, tái định hình một số cảnh quay cận cảnh, Renoir đã thay thế tính ổn định hình ảnh mà trong đó các cảnh quay chỉ được dàn dựng một lần duy nhất. Không có đến một cú lia máy trong toàn thể bộ phim. Renoir sử dụng ống kính máy quay chẳng khác nào một chiếc kính thiên văn, di chuyển ra vào giữa ranh giới thực tại, tiết lộ đồng thời che giấu một số yếu tố dựa trên thứ bản năng tài tình, nhuốm chút ma mãnh của ông. 
Có vẻ như Renoir chỉ hứng thú với việc trình bày sự việc theo đúng bản chất của chúng. Ngay cả lúc phải quay trở về với phong cách làm phim truyền thống, dùng đến nhiều cảnh quay cùng lúc, tỉ như cảnh ngủ trưa chẳng hạn, cũng không có dấu hiệu nào cho thấy sự kết nối với chủ nghĩa biểu hiện tuợng trưng. Ông dùng đến nó chỉ như một phương thức tường thuật, và không có đến một giây nào phá vỡ đi tính hiện thực cụ thể trong từng khoảnh khắc."














"Để vẽ nên một con đường trong khu rừng rậm, sẽ là một ý kiến không tồi nếu bạn có trong tay một cây gậy nhằm dẹp bỏ đi những chuớng ngại vô hình truớc mắt. Thỉnh thoảng cây gậy sẽ hích phải một thân cây hoặc tảng đá rắn chắc và gãy ngay trong tay bạn, cũng có thể nó vẫn còn nguyên, có điều chắc chắn là tay bạn sẽ sưng tấy lên. Điều này cũng tương tự với những gì tôi đã làm được suốt mười năm qua. Tôi không hề muốn đứng yên một chỗ cố định, cây kim la bàn tôi đang dùng thì cứ quay vòng không ngừng, khiến cho tôi thấy hoang mang không tìm ra được lối đi ngay. Song tôi lại rất lấy làm tự hào, chí ít tôi cũng chưa mất hết mọi mối liên hệ với thế giới bên ngoài. Tôi lấy lại được niềm tin của mình thông qua The River. Bản thân tôi cảm thấy rất rõ ràng trong cơ thể cháy lên một khao khát muốn vươn tay ra chạm tới những bạn bè đồng loại của tôi trên khắp thế giới này." - Jean Renoir.




















Tuesday, May 8, 2012

[IMG]http://i1227.photobucket.com/albums/ee421/hoang19/style/thanhhang07.jpg[/IMG]

Thursday, October 20, 2011

La Jetee

Độc đáo “La Jetée”


by Nguyễn  Trà
“La jetée” hay  “Đê chắn sóng” là  một bộ phim khoa học giả tưởng nổi tiếng của Chris Marker được làm năm 1962, vậy mà gần đây tôi mới có may mắn được xem tại Trung tâm Doclab. Khoan bàn về nội dung và ý nghĩa sâu xa của nó, ở bài viết ngắn này tôi chỉ muốn chia sẻ một vài nét độc đáo cơ bản trong cách thể hiện, dàn dựng của bộ phim (Image: Argos Films)

Điều thú vị đầu tiên ở đây là hình thức kể chuyện bằng hình ảnh với giọng kể ngoài hình. Hẳn rằng để có 1 bộ phim gần 30 phút, tác giả đã phải kỳ công chụp tới hàng nghìn bức ảnh, và tỉ mẩn lựa chọn từng bức có khả năng biểu đạt cao nhất, phù hợp mạch chuyện, để dù là các hình tĩnh, nhưng khán giả vẫ cảm thấy sự chuyển động, tính liên tiếp và thần thái của nhân vật. Nếu để ý kỹ hơn, tác giả còn có tính chủ định trong việc chọn góc chụp, ánh sáng trong từng bức ảnh: những bức ảnh cùng cô gái với ánh sáng tự nhiên hài hòa, những khung hình trong bảo tàng với góc chụp từ trên cao hoặc từ dưới chếch lên tạo không gian tự do, rộng lớn. Ngược lại, các bức ảnh trong cuộc thí nghiệm đầy rẫy bóng tối, tù nhân với ánh sáng mạnh trên khắp khuôn mặt, tạo sự tương phản mạnh cho hốc mắt đen sầm u tối. Những con người ở tương lai bí ẩn chưa được khám phá hết với ánh sáng mạnh ở một nửa khuôn mặt, và nửa còn lại giấu trong bóng tối dày đặc.
Điểm vô cùng đặc sắc nữa ở bộ phim là 1 câu chuyện với kết cấu vòng tròn: điểm mở đầu phim lại là điểm kết thúc, đi đến tận cùng bộ phim ta lại quay về điểm khởi đầu. Không biết rằng có phải kết cấu này có được rất nhiều đạo diễn học tập trong các bộ phim điện ảnh về các chiều thời gian không gian ảo không? (“The lake house” hoặc “The time traveler’s wife”?)
Bộ phim được dựng với những mối dựng song song, tạo nên những tương phản rõ rệt mà trong đó âm thanh và ánh sáng đã hỗ trợ thành công sự tương phản ấy. Ta có thể thấy rõ nhất điều này ở trường đoạn đan xen cảnh tại phòng thí nghiệm và lúc nhân vật chính  gặp cô gái. Những khi gặp cô gái, thiên nhiên và ánh sáng yên bình, âm nhạc cũng nhẹ nhàng và nhiều lúc gần như thần tiên. Nhưng ngay sau ấy, câu chuyện quay lại cảnh nhân vật chính trong phòng thí nghiệm, đập ngay vào mắt khuôn mặt tên bác sỹ với nhiều khoảng tối, âm thanh là những tiếng đập đều đều như tiếng tim đập, gợi cảm giác căng thẳng, lạnh lẽo, hồi hộp như khi trong phòng mổ. Âm thanh ấy cứ đều đều từng nhịp rất khó chịu, bức bối và to dần đến mức hoảng loạn.
Tất cả những điều ấy, cùng với 1 câu chuyện đầy màu sắc kỳ ảo giữa hiện tại, tương lai, quá khứ, điểm đầu và điểm kết vừa gây cảm giác kỳ bí, vừa gợi suy nghĩ về những cuộc thí nghiệm tàn nhẫn thực tế đã xảy ra ở những góc tối trong quá khứ. Hơn cả, tác giả phải có sức sáng tạo kỳ diệu để nghĩ ra một câu chuyện đa chiều như vậy

Chunking Express

Những câu chuyện thành phố


by Thu Hằng – Mai Phương
Nếu ký ức có thể đóng hộp lại, chúng có thời hạn sử dụng không? Nếu có, tôi hi vọng rằng chúng sẽ kéo dài hàng thế kỷ (Chung kinh Express). Và đó sẽ mãi mãi chỉ là mơ ước của vậy  thôi.

Dường như trong bộ phim nào của Vương Gia Vệ cũng ăm ắp những chuyện tình buồn, nhưng Chungkinh Express, lạc ra khỏi dòng đó, trong những chuyện tình buồn cuối cùng đã le lói một mối tình đã chớm nở và đơm hoa kết trái, trải qua một hành trình dài cuộc tìm kiếm giữa hai kẻ đang mò mẫm để yêu nhau.
Chungkinh được làm vào năm 1994 sau khi đóng máy bộ phim “Đông Tà Tây độc”trong thời gian chờ đợi hai tháng để biên tập phim, họ Vương quyết định làm phim này khi trong tay còn chưa có một kịch bản trọn vẹn. Ông từng cho biết : ““Lúc đó tôi chẳng có gì làm, tôi quyết định làm Trùng Khánh Sâm Lâm theo bản năng của mình… Sau khi đã thực hiện một bộ phim võ hiệp nặng ký như Đông Tà Tây Độc, tôi muốn làm một bộ phim đương đại nhẹ nhàng, nhưng với những nhân vật có cùng các vấn đề của bộ phim kia”.

Rõ ràng ông mục đích của ông đã thành công.
Chungkinh là câu chuyện kể vể hai mối tình lần lượt diễn ra trong phim. Chúng không có mỗi liên quan gì đến nhau trừ tình tiết cả hai nhân vật nam chính đều là cảnh sát và thất tình.
Câu chuyện thứ nhất kể về viên cảnh sát mang số hiệu 233 – Hà Chí Vũ,( Kaneshiro Takeshi), anh ta chia tay người yêu vào đúng ngày ¼ và quyết định sẽ chờ đợi sự quay lại của người yêu trong vòng một tháng nữa tính từ ngày đó, tức là mối tình đó sẽ kết thúc vào ngày 1/5, đúng là ngày sinh nhật lần thứ 25 của anh ta. Trong quãng thời gian một tháng đó, ngày nào anh ta cũng mua một hộp dứa để dành và chờ đợi. Nhưng cô người yêu chẳng may thay đã không hề quay lại. 223 đã một mình ăn hết số dứa đó và quyết đinh ra ngoài chạy bộ, như một hình thức để giải toả nỗi đau khổ bởi khi chạy “mồ hôi sẽ vắt kiệt hết nước mắt”. Vũ yêu một người đàn bà tóc vàng không lâu sau đó trong một quán bar mà không hề biết rằng cô ta đang dính vào một vụ buôn bán ma tuý và đang trên đường bị đối thủ truy sát. Kết thúc của mối tình thoáng chốc này, Vũ để lại người đàn bà trong khách sạn và ra đi sau một đêm thức trắng ngồi ăn xem ti vi. Trước khi đi, anh ta còn dùng ca la vát của mình để đánh bóng lại đôi dày của người đàn bà đó. Người mà anh ta chẳng biết là ai, một người tình cờ bước vào quán bar, bước vào cuộc đời của anh ta và trờ thành ký ức. Chính đây là lúc Vũ đã nói: “Nếu ký ức có thể đóng hộp lại, chúng có thời hạn sử dụng không? Nếu có, tôi hi vọng rằng chúng sẽ kéo dài hàng thế” sau khi nhận được tin nhắn chúc mừng sinh nhật từ cô. Cuộc sống là một chuỗi hẹn hò của những mối liên hệ tình cờ, mà Vũ cũng như chúng ta không bao giờ có thể lường đoán được. Sự kết thúc của điều này lại là sự khởi đầu cho những cuôc hành trình mới. Mối tình này được thuật lại qua lời kể của 233. Thực ra, trước cuộc chạm trán trong quán bar sau đó, họ đã gần như chạm được vào với nhau vì chỉ cách có 0.1 cm theo như lời 223 nói, “57 giờ đồng hồ sau tôi đã yêu người phụ nữ đó”. Câu nói này của 223 còn được lặp lại khi bắt đầu chuyển sang câu chuyện tình yêu số hai của cô gái bán hàng ăn và viên cảnh sát mang số hiệu 633. Vũ nói: “Chúng tôi chỉ cách nhau có 0,1cm và sáu tiếng sau cô ta đã yêu người đàn ông này (chỉ 633)”. Có một điều gì đó thật mong manh và chơi vơi trong tất cả những mối quan hệ đó. Có những thứ người ta tưởng là một sự ràng buộc chắc chắn, nhưng thực ra chẳng có điều gì như thế cả. Mối tình của 633 với cô tiếp viên hàng không cũng là một mối tình chơi vơi và vô vọng như vậy. 633 (Lương Triều Vĩ)  khủng hoảng vì sự ra đi của cô tiếp viên hàng không, công việc của anh ta diễn ra hàng ngày đều đặn nhàm chán. Anh ta chỉ trở về với nỗi đau khổ của mình trong căn phòng nhỏ bề bộn, mặc đồ lót và ôm những con gấu bông đủ các kích cỡ và tâm sự với chúng môt mình. Anh ta thậm chí còn không dám đọc bức thu cuối cùng của người yêu gửi cho qua ông chủ quán bán đồ ăn nhanh, nơi Phi (Vương Phi) làm việc. Anh ta sợ đối mặt với sự thật, hoặc giả anh thừa biết nội dung trong bức thư đó là gì rồi và thấy không cần thiết phải quan tâm tới nó nữa. 633 không hề biết rằng chính nhờ bức thư đó mà Phi chú ý đến anh. Phi không thể hiện nhiều cảm xúc, tình yêu của cô thật cụ thể chính xác và sống động, cô lén đến căn hộ của anh hàng ngày và dọn dẹp lại cho nó gọn gàng sạch sẽ. 633 vì vẫn còn chìm lấp trong đau khổ, anh không nhận ra nổi những sự thay đổi trong căn nhà của mình cho đến khi quyết định sẽ thoát ra khỏi mối tình với cô tiếp viên hàng không và vực dậy lại tinh thần của mình. Anh bắt đầu chú ý đến những chi tiết nho nhỏ và kín đáo quan sát Phi. Họ như thể đang chơi trò vờn đuổi nhau.

Việc sử dụng các effect đã tạo ra được những cảm xúc thật mới mẻ cho Chungkinh. Các trường đoạn đuổi bắt trên phố của Vũ, cuộc rượt đuổi cô gái tóc vàng đã sử dụng những hiệu ứng đặc biệt tạo cảm giác gấp gáp, kịch tính, căng thẳng chỉ trong một vài giây. Cảnh mô tả câu chuyện tình thứ hai giữa 633 và Phi khi hai người đứng trước quầy hàng và chờ đợi. Ta không hiểu ho chờ đợi điều gì vào lúc đó, chỉ biết rằng khuôn hình của hai người dường như đứng lại tĩnh lặng và trước mặt họ, từng bóng người thoắt ẩn thoắt hiện và trôi đi trên phố. Điều đó có lẽ chỉ riêng điện ảnh mới có thể làm được. Từ giây phút đó, dù họ dường như chưa có mối liên hệ nào với nhau nhưng người xem đã ngay lập tức nhận ra rằng họ đã thuộc về nhau. Vĩnh viễn.
Chungkinh rất ít các cảnh tĩnh, với phong cách cầm tay mô tả được sự chao đảo trong hiện thực đời sống, sự hỗn loạn của thành phố và mối quan hệ giữa mạng lưới con người, các khuôn hình động và nghiêng ngả đủ kiểu cho thấy những đời sống mất thăng bằng, những nội tâm đầy giông bão. Một bộ phim nữa quá hay của đạo diễn họ Vương.

Breathless

Jean-Luc Godard và Breathless


by Trần Trà
Jean-Luc Godard, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại thủ đô Paris nước Pháp, là một nhà phê bình rất dữ dội và đòi hỏi những tiêu chuẩn và yêu cầu cao. Ông trở thành một nhà làm phim khiêu khích nhất của phong trào Làn sóng mới. Trong số những tác phẩm đầu tiên của ông, chỉ có phim Breathless được nhiều thành công đáng chú ý, đặc biệt là về mặt tài chính.
Bộ phim này cũng được công nhận là bộ phim của phong trào Làn sóng mới nhờ kỹ thuật quay phim bằng máy camera tay, dựng phim kiểu ngắt đoạn và sự kính trọng dành cho các bộ phim Jean-Pierre Melville và Monogram B. Trong thập kỷ tiếp theo, tác phẩm của Godard nêu ra những vấn đề cơ bản về nghệ thuật kể chuyện.
Chúng ta sẽ phân tích rõ những điều này qua bộ phim Breathless của ông.
Trước tiên, ta nói về nghệ thuật kể chuyện tự sự của bộ phim. Theo Jean-Luc Godard, thì “Một phim cần phải có phần mở đầu, phần giữa và phần kết thúc – Nhưng không nhất thiết phải đi theo trình tự ấy”. Đây đã trở thành lời tuyên bố nổi tiếng của Godard. Ông đã đưa tư tưởng rất táo bạo này vào bộ phim Breathless, phá vỡ mọi quy luật dẫn truyện trên màn ảnh. Dù Breathless có cốt truyện khá đơn giản, song với cách kể này mà khiến nó không hề nhàm chán cho người xem. Câu chuyện vẫn rõ ràng, nhưng lại có nhiều tình tiết khó đoán trước, khiến người xem bị thu hút vào bộ phim.
Ngay cảnh mở đầu của Breathless thật sự đặc biệt, nó khiến chúng ta tò mò về nhân vật nam chính Michel Poiccard. Cảnh đầu tiên này chính là cột mốc để dẫn đến 1 loạt các biến cố mà ta sẽ được chứng kiến trong bộ phim. Ngay sau đó, là sự xuất hiện của một tờ báo với hình phụ nữ phủ kín màn hình, sau đó trượt xuống, để lộ bộ mặt của Michel Poiccard, miệng đang phì phà ngậm điếu thuốc lá, khi anh đang nhìn thế giới dưới vành mũ rakishly của mình. Anh xoay đầu, và quệt ngón tay cái qua đôi môi để bắt chước thần tượng của mình là Humphrey Bogart (một hành động kỳ lạ và khó hiểu _ phần nào đã cho ta một dự cảm rằng tính cách nhân vật này sẽ có gì đó rất đặc biệt). Nội dung chính của chuyện phim xoay quanh nhân vật chính là Michel Poiccard, một công dân vô trách nhiệm và là một kẻ trộm vặt. Sau khi ăn cắp một chiếc xe hơi ở Marseille, Michel đã bốc đồng bắn một cảnh sát; Anh ta bất đắc dĩ phải vượt biên giới. Không một xu dính túi, anh ta tìm đến cô bạn gái người Mỹ của mình là Patricia, một cô bé mồ côi_nhà báo sinh viên đầy tham vọng và là một người bán báo dạo trên đường phố Paris. Michel muốn Patricia đến Ý với anh ta, dụ dỗ cô về mặt tình cảm. Sau đó Patricia nói với Micheal rằng cô đã có thai với anh. Cô phát hiện ra Michel đang phải chạy trốn cảnh sát. Cuối cùng, cô phản bội anh, tố cáo anh với cảnh sát. Nhưng trước khi cảnh sát đến nơi, Patricia lại thú tội với Michel về những gì cô đã làm. Michel có phần cam chịu 1 cuộc sống trong tù, và không cố gắng để thoát ra khỏi nó. Cảnh sát bắn anh trên đường phố, và sau khi chạy trốn được 1 đoạn, Michel đã chết.
Nội dung chính thì chỉ có vậy, nhưng cách kể chuyện của Godard lại rất đặc biệt và mới lạ. Theo như cách kể chuyện của ông, thì người xem không thể đoán nhận được câu chuyện sẽ có cái kết đi đến đâu, nó dường như xa rời các chuẩn mực của phong cách cổ điển, xây dựng động cơ nhân vật khá mơ hồ và sa vào đối thoại vặt vãnh. Đầu tiên là khi Michel gây ra tai nạn cho một cảnh sát, ta có thể cảm nhận rằng nhân vật này không phải là người tốt. Sau đó khi giới thiệu nhân vật nữ Patricia, là một cô gái đang bán báo dạo trên đường, ta cảm nhận thấy đây là một cô gái hiền lành dễ mến, cả tin. Sau đó Michel tán tỉnh cô, về căn hộ của hai người, Michel cố tình quyến rũ để có thể ngủ với cô, khiến ta thêm một lần nữa có nhận định Michel có thể là một gã sở khanh, và Patricia thì cả tin có phần hơi ngu ngốc và đơn giản. Câu chuyện cứ được kể cứ theo hướng đấy, cho đến khi ta thấy Patricia có thái độ đồng tình với việc ăn cắp xe hơi của Michel, và nói dối cảnh sát để bao che cho Michel. Rồi giúp anh đi trốn và lại tố cáo với cảnh sát, để dẫn tới việc cái chết của Michel. Điều này lại cho thấy Patricia không phải là một người đơn giản, mà cô cũng có toan tính. Những tưởng cô giúp người yêu lẩn trốn, thực ra lại chỉ là một cái bẫy để cô tố cáo với cảnh sát, hòng tự bảo vệ quyền lợi bản thân được ở lại nước Pháp (theo như lời đe dọa của viên cảnh sát đối với cô). Phần nào đấy trong hành động tố cáo đó cũng không sai (bởi Michel cũng không phải là người vô tội), song ta lại không thể đồng tình bởi hành động đó không chân thật, mà mang tính như lừa người yêu của mình vào bẫy. Đến đây, ta thấy một bước chuyển trong cách khắc họa nhân vật, khiến ta thấy mơ hồ về tính cách nhân vật ( mà vốn ta đã ngầm mặc định từ đầu phim đến nay). Bất ngờ nữa, đó là Michel đang mong muốn cùng bạn gái trốn chạy cảnh sát, sau khi nghe Patricia nói đã tố cáo chỗ ẩn nấp của anh, lại có thái độ cam chịu bị bắt, chứ không phản kháng. Thêm một lần nữa, ta lại phân vân không biết nhận định về tính cách nhân vật từ đầu phim đến giờ có đúng hay không!?
Tóm lại, câu chuyện phim xây dựng một nhân vật nữ với tính cách khó hiểu, và có phần không tốt, song cách kể lại ngược lại, dẫn dụ người xem như thể Patricia là một cô gái đơn giản và tốt bụng, khiến người xem hoàn toàn lạc hướng và không thể ngờ đến cái kết bất ngờ như trong phim. Đây là một điều mới và độc đáo, tạo nên một trào lưu Làn sóng mới trong điện ảnh thời bấy giờ.
Điều tiếp theo tạo nên nét độc đáo của bộ phim, cũng như là một nét riêng của Godard và trào lưu Làn sóng mới, đó là một cái kết mở. Ở cảnh cuối bộ phim, khi Michel bị bắn và Patricia chạy tới, đã có đoạn hội thoại giữa hai người như sau:
MICHEL: Điều đó thực sự thật đáng khinh.
PATRICIA: Anh ta nói gì vậy?
VITAL: Anh ta nói, “Cô thật là đáng khinh”.
PATRICIA: “Đáng khinh” nghĩa là sao?
Sau đó, Patricia lặp lại cử chỉ dùng ngón tay quẹt lên môi giống như Michel, và đột ngột quay lưng lại phía chúng ta khi hình ảnh mở dần; Cô lặp lại hành động của 1 tên tội phạm (là Michel) một cách vô thức. Đoạn hội thoại với sự bất đồng ngôn ngữ, giữa Michel và cô bạn gái Patricia, dường như càng khắc họa thêm sự mông lung, mơ hồ trong nhận định tính cách của nhân vật. Breathless không chỉ tầm thường là một câu chuyện về tình yêu và phản bội. Dường như nó mang nghĩa rất thời đại lúc bấy giờ của bộ phim, về sự mông lung trong nhận định phương hướng sống của giới trẻ lúc bấy giờ; Rằng ranh giới giữa tốt và xấu rất mong manh, rằng đôi khi chính giới trẻ (hay Patricia và Michel) cũng không biết mình đang sống theo một cách tốt hay cách xấu, hành động đúng hay sai, như chính câu hỏi của Patricia: ”Đáng khinh nghĩa là sao?”, có lẽ chính cô cũng bị mắc kẹt không biết sống như thế nào để được gọi là đúng.
Nói về Breathless ta không thể không nói về các cảnh quay trong phim.
Mặc dù về một số phương diện, Breathless mô phỏng một dòng phim Hollywood những năm 1940 – dòng phim Noir – dòng phim mà phần lớn được làm ở các trường quay, nơi ánh sáng được chọn lọc có thể bao bọc các nhân vật trong một bầu không khí suy tư, thì Breathless lại tận dụng lối quay thực địa với ánh sáng sẵn có. Như ta biết, các phim Hollywood sử dụng hệ thống chiếu sáng 3 điểm là ánh sáng chủ chốt, ánh sáng bổ sung và ánh sáng nền, được kiểm soát chặt chẽ trong các phim dựng trường quay; Thì Breathless được quay hoàn toàn trên thực địa, ngay cả trong nội thất. Godard và nhà quay phim đã quyết định không thêm bất cứ một nguồn sáng nhân tạo nào trong dựng cảnh quay. Kết quả là ta nhận thấy khuôn mặt của các nhân vật đôi khi bị tối.
Quay phim tại thực địa, đặc biệt là cảnh quay trong căn hộ của Patricia ở đoạn đầu phim đã thể hiện rõ những yếu điểm về kỹ thuật, nó hạn chế về sự đa dạng cho góc nhìn và di chuyển của máy quay.
Song, để khắc phục yếu điểm này, Godard cũng tận dụng ưu thế của trang thiết bị di động mới – máy camera cầm tay. Trong phim nhiều cảnh sử dụng kỹ thuật quay phim này và cũng đã đạt hiệu quả. Ví dụ như ở các cảnh quay rung trên phố và máy camera theo sát chuyển động của nhân vật, dù có hơi thô ráp và không được mịn như cách quay máy truyền thống, song nó lại tạo cho người xem một cái nhìn sống động hòa đồng với nhịp của câu chuyện. Điều này cũng đã đưa việc quay phim mở ra một trang mới, bởi trước đó hầu như các nhà quay phim chỉ sử dụng máy cố định và chuyển cảnh bằng cách dựng.
Một trong những sáng tạo có ảnh hưởng nhất của Godard chính là thiết kế những cảnh quay trông rất bằng phẳng đến độ ngạc nhiên. Thêm vào đó, những cảnh quay ở phần đầu của phim lấy bối cảnh phòng trọ của Patricia cũng rất mới lạ, bởi việc sử dụng những bối cảnh đơn giản tại một căn phòng thực lúc bấy giờ cũng là một điều ít ai làm. Những cú đặc tả cận cảnh khuôn mặt 2 nhân vật chính cũng rất đắt, đặc biệt đặc tả khi Michel đưa tay lên môi và du di một cách bí hiểm.
Việc dựng phim của Godard còn gây ngạc nhiên hơn là việc dàn dựng cảnh.
Điểu đáng chú ý nhất trong Breathless, đó là khi Godard phá bỏ những quy tắc cơ bản của việc dựng phim nối tiếp, đáng chú ý là việc dứt bỏ các khuôn hình trong giữa các cảnh quay để tạo những cảnh quay ngắt đột ngột (jump-cut) để tạo những kiểu dựng nhảy vọt gây ấn tượng mạnh. Ví dụ như cảnh Michel phát hiện thấy người đàn ông đang xem bức ảnh tố cáo trên tờ báo, Godard đã chèn thêm vào một vài ánh mắt nhìn, điều này như một điểm nhấn giúp khán giả nhận ra rõ ràng hơn việc người đàn ông đã nhận ra Michel rất có thể sẽ tố giác anh. Hay các cảnh quay Michel và Patricia ngoài phố, khi Patricia ngoái nhìn tìm kiếm điều gì đó, các cảnh quay ngắt đột ngột càng làm lộ rõ lên vẻ mất phương hướng và mơ hồ của nhân vật (đúng như ý của tác giả).
Nói về việc sử dụng Jump-cut, Breathless đã khai thác lối cắt cảnh kiểu này khá nhiều lần trong phim. Trong một vài cảnh ở đầu bộ phim, khi Michel đến thăm một bạn gái cũ, việc cắt cảnh nhảy vọt đã chuyển vị trí của họ một cách đột ngột (Michel đang đứng từ 1 góc nhìn người bạn gái đang trang điểm, thì ở cảnh sau đã thấy Michel ngồi trên giường còn người bạn gái thì đứng dậy và đang nhìn vào anh, không có đoạn di chuyển của Michel từ vị trí anh nhìn bạn gái đến chiếc giường). Không chỉ có việc di chuyển vị trí máy quay, Godard còn đôi khi cắt bỏ một chút thời gian hoặc xáo trộn vị trí của các diễn viên, giúp nhịp phim sống động và đẩy nhanh hơn.
Âm thanh của Breathless cũng đặc biệt, Godard đã tạo ra những tiếng ồn xung quanh xen kẽ vào cuộc đối thoại trong những cảnh nhân vật ở ngoài phố. Điều này giúp Breathless dường như sống động và “đời” hơn.
Tóm lại, Godard đã kết hợp các cảnh quay trên sân khấu với chất liệu phim thời sự ( quảng cáo, tranh biếm họa, đám đông qua lại trên đường phố), thường chỉ có ít mối liên hệ đến cốt truyện. Godard đã pha trộn nhiều hơn những yếu tố truyền thống xuất phát từ nền văn hóa phổ thông, ví dụ như những tiểu thuyết trinh thám hoặc các bộ phim của Hollywood, với triết học hoặc nghệ thuật tiên phong.
Những mâu thuẫn, lạc đề và sự không thống nhất trong tác phẩm Godard lại dường như hợp lý, bởi xét riêng trong Breathless thì nó lại tạo thành một tổng thể thống nhất, giữa việc dựng phim không liên tục và các kỹ thuật phi truyền thống; Hơn nữa, các cú bước nhảy trong hình ảnh và âm thanh tạo ra lối trần thuật thô mộc khiến cho người xem có ý thức về sự lựa chọn phong cách của nó.
Breathless, không rõ mục đích, có phần tầm thường, song có thể nó đã trở thành một mô hình cho các đạo diễn nào muốn sáng tạo ra sự kính trọng hết sức ngẫu hứng và tái tạo lại đối với truyền thống Hollywood.
Thay lời kết:
Trong quá trình phát triển điện ảnh, đã có nhiều phim lớn và kinh điển. Một vài phim đã trở thành cột mốc. Trong giai đoạn Làn sóng mới, Breathless rõ ràng đã trở thành 1 phim được coi là cột mốc; Và Jean-Luc Godard, tác giả của bộ phim, rõ ràng đã thay đổi cách chúng ta – những người khán giả nhìn nhận thế giới xung quanh lúc bấy giờ.

Akira Kurosawa

Dreams


by Đỗ Hòa
Được mệnh danh là đạo diễn “Tây” nhất trong số các đạo diễn Nhật, người đã chứng tỏ khả năng tiếp cận thế giới một cách cao độ cả về những giá trị tư tưởng nội dung lẫn hình thức biểu hiện nghệ thuật trong phim và trở thành một đạo diễn Châu Á có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử điện ảnh thế giới, Akira Kurosawa vẫn cho người xem thấy mình vẫn là một người Nhật với những tư tưởng mang đậm văn hóa truyền thống của xứ sở mặt trời mọc.
Những tác phẩm điện ảnh của mình Kurosawa không chỉ khiến người Nhật giật mình, ngạc nhiên bởi nét Tây hóa mà ông là người khai mở trong những bộ phim “đóng mác” Nhật mà còn khiến thế giới phải trầm trồ trước những tư tưởng truyền thống được thể hiện một cách rõ nét như thể đã ăn sâu vào trong máu thịt của ông để rồi truyền tải lại qua từng cảnh phim. Nếu như người xem thấy được đời sống của những hạng người rất khác nhau trong xã hội Nhật năm xưa, từ võ sĩ sumurai đến tên cướp hay thân phận của người phụ nữ Nhật qua những câu chuyện và lời kể của họ trong Rashomon hoặc hình ảnh những võ sĩ đạo đậm chất Nhật trong Seven Sumurai thì “Akira Kurosawa’s Dreams” lại như một lời tự sự của Kurosawa – một người Nhật bằng ngôn ngữ điện ảnh vừa truyền thống vừa hiện đại.
Akira Kurosawa’ s Dreams – Giấc mơ của Akira Kurosawa là tập hợp của tám bộ phim ngắn với nội dung khác nhau. Mỗi bộ phim là một giấc mơ – thực chất là một câu chuyện, một biến cố mang theo những kinh nghiệm, bài học mà theo như cách tự sự của Akira Kurosawa thì chính là những điều đã xảy ra trong các quãng đời khác nhau của ông. Kurosawa đã trải nghiệm những điều đó và giờ bằng ngôn ngữ điện ảnh rất riêng, ông kể câu chuyện của cuộc đời mình – cuộc đời một người đàn ông Nhật.
Mở đầu cho bộ phim là giấc mơ “Cầu Vồng”. Đó là câu chuyện về một cậu bé đã tò mò mà đi xem đám rước của họ nhà cáo trong một buổi trời vừa mưa vừa nắng. Sự tò mò muốn biết đám rước ấy diễn ra thế nào của cậu bé đã khiến họ nhà cáo tức giận. Một con cáo đã tìm đến nhà, đưa cho mẹ cậu bé một con dao và yêu cầu cậu bé phải “tự xử”. Người mẹ không cho cậu vào nhà, buộc cậu phải tìm kiếm sự tha thứ từ họ nhà cáo mặc dù điều đó là rất khó khăn. Vậy là cầm con dao của họ nhà Cáo – cũng là nắm lấy nguy hiểm, thách thức trong bàn tay nhỏ bé của mình, cậu bé đi tìm gia đình cáo để xin lỗi. Bằng một câu chuyện nhẹ nhàng được gắn kết một cách khéo léo trong tích dân gian, Kurosawa đã cho người xem cảm nhận được bài học đầu đời của một cậu bé. Đó là việc phải sẵn sàng đón nhận, sẵn sàng đương đầu với những khó khăn do chính mình tạo ra. Hay nói một cách khác là phải chịu trách nhiệm với hành động của mình, dù chỉ là một cậu bé. Cùng với bài học về trách nhiệm, “Cầu vồng” cũng gợi mở cho người xem niềm tin, sự lạc quan đầy hi vọng. Hình ảnh một cậu bé đang phải đối mặt với sự trừng trị của họ nhà cáo ra đi để tìm kiếm sự tha thứ không khiến người xem cảm thấy lo sợ. Sự ra đi đó giống như một hành trình của sự trưởng thành, hành trình để tìm thấy vẻ đẹp sau những khó khăn, gian khổ. Cứ cầm lấy con dao – cứ nắm lấy nguy hiểm mà đi về phía trước, rồi sẽ thấy cầu vồng. Với Kurosawa, triết lí ấy, được biểu hiện nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc trong hành trình của một cậu bé.
Sau hành trình đi tìm sự trưởng thành, Kurosawa tiếp tục để cậu bé – tuổi thơ của chính mình đối mặt với sự mất mát và nỗi đau đầu đời cùng “Giấc mơ vườn đào”. Câu chuyện được mở ra vào ngày lễ hội búp bê – một lễ hội truyền thống của người Nhật Bản. Cậu bé mang đồ ăn lên cho chị gái và những người bạn của chị mình. Nhưng trong khi cậu khăng khăng là có sáu người trong nhóm các bạn chị thì người chị lại bảo rằng chỉ có năm người. Khi mở cửa đi ra khỏi phòng của chị gái, cậu bé là người duy nhất nhìn thấy một cô gái nhỏ trong bộ kimono màu hồng nhạt. Chạy theo cô, cậu bé đã ra đến vườn đào của gia đình mình. Cậu bé thấy cô bé chạy lên những luống cao hơn của vườn đào và đang định chạy theo thì bỗng xuất hiện rất nhiều người trong trang phục của những con búp bê Nhật. Họ chính là linh hồn của những cây đào. Những búp bê – linh hồn của những cây đào trách cậu và gia đình đã chặt hết những cây đào mà không biết rằng ngày hội búp bê được gắn với những cánh hoa đào  – hoa đào là linh hồn tự nhiên của lễ hội búp bê. Những con búp bê cũng nói với cậu bé là họ sẽ không quay trở lại với gia đình cậu nữa vì gia đình cậu không hiểu được ý nghĩa của lễ hội một cách thực sự. Thế nhưng, khi biết được cậu bé là người tốt, đã cố gắng ngăn cản việc vườn đào bị chặt thì những búp bê quyết định múa và hát một điệu nhạc truyền thống, gọi những cánh hoa đào về. “Giấc mơ vườn đào” không chỉ là cái nhìn trong trẻo qua con mắt của trẻ thơ về một lễ hội truyền thống mà còn là nỗi đau, sự mất mát đầu tiên mà cậu bé đón nhận. Cũng qua đó, bài học về sự gắn kết giữa thiên nhiên – môi trường sống với phong tục tập quán truyền thống của người Nhật cũng được Kurosawa nhắc đến, đầy tự nhiên.
Nếu như “Cầu Vồng” và “Giấc mơ vườn đào” là sắc màu tươi tắn, trong trẻo của một tâm hồn trẻ thơ thì đến năm giấc mơ sau, gồm “Bão tuyết” , “Đường hầm”, “Đàn quạ”, “Núi Phú Sĩ rực lửa”, “Bầy quỷ than khóc”, người xem nhận thấy nhiều hơn những khó khăn, những u tối trong cuộc sống mà khi trưởng thành, con người ta phải đối mặt. Chỉ thấp thoáng đôi phút ngọt ngào, đầy lãng mạn của giấc mơ về niềm đam mê trong “Đàn quạ” còn lại ở bốn giấc mơ khác đều là những nỗi đau, những khổ cực mà con người ta từ có thể vượt qua đến hay phải chịu đựng trong sự bất lực.  “Bão tuyết” là hành trình của bốn con người trên đỉnh núi trong bão tuyết. Đã ba ngày, tuyết không ngừng rơi, gió lớn không ngừng thổi, tất cả họ đều đi trong lặng câm, mệt mỏi và ý muốn từ bỏ, gục xuống đã trỗi dậy trong ba người. Chỉ còn lại một con người, với đôi mắt luôn cố gắng mở to nhằm tìm kiếm đường đi, xác định phương hướng đồng thời kêu gọi những người còn lại phải tỉnh táo, kiên trì. Ba trong số họ đã không còn muốn cố gắng, gục xuống sau những cãi vã với người dẫn đường. Bản thân người dẫn đường dường như cũng cạn kiệt sức lực và ngã quỵ. Trong những giây phút chập chờn nửa tỉnh, nửa mơ ấy, giấc mộng về sự ấm áp của tuyết, sự nóng bỏng của băng đá được dụ dỗ bởi một người đàn bà đẹp. Cố gắng vượt thoát khỏi sự cám dỗ, người dẫn đầu bừng tỉnh, con quái vật ngụy trang trong dáng vẻ người đàn bà đẹp biến mất. Người dẫn đường kéo những người bạn của mình và họ thấy lều của mình, cách đó vài bước chân. Đó là bài học của nghị lực, của sức mạnh đấu tranh với chính bản thân mình và cố gắng không ngừng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhất. Nếu không có điều đó, bản thân sẽ bị ru ngủ và cái chết ập đến.
Sau “Bão tuyết”, Kurosawa dẫn người xem vào một “Đường hầm” với nỗi ám ảnh tội lỗi của những góc khuất đen tối trong tâm hồn con người. Một người lính trên đường trở về nhà, khi đi đến trước một đường hầm tối, bỗng xuất hiện một con chó trên mình có gắn thuốc nổ. Con chó – như biểu tượng chó canh từ địa ngục đã dẫn người lính vào thế giới của những âm hồn, đầy ám ảnh và vương vấn với thế gian. Đó là người lính nhớ nhà, thương bố mẹ đau đớn tự hỏi có phải mình đã chết không. Đó là cả một trung đội đã bị tiêu diệt vẫn ngỡ mình vừa đi làm nhiệm vụ về. Họ là những linh hồn nhưng cũng là nỗi ám ảnh của chính người lính, viên sĩ quan – đã sống sót trở về từ trong một cuộc chiến tranh vô nghĩa, ngu ngốc như những gì anh đã nói. Cuộc gặp gỡ của những con người – giờ ở hai thế giới thực chất là cuộc tự vấn lương tâm của nhân vật, là lúc để nhân vật bộc lộ những ám ảnh đang được chất đầy trong tâm trí mình. Đó cũng là cách mà Kurosawa tuyên chiến với chiến tranh, với những nỗi đau mà nó đã gây ra cuộc sống con người.
Vượt qua “Bão tuyết”, vượt qua “Đường hầm”, nhân vật được trải mình trong thế giới của niềm đam mê với những gam màu rực rỡ, đầy tươi đẹp của cuộc sống. Đó là hành trình của một chàng họa sĩ, yêu những bức tranh của Van Gogh, lạc vào thế giới trong tranh và tìm kiếm nguồn cảm hứng của mình. Qua những bức tranh, qua những khung cảnh đẹp, người xem như nhẹ lòng sau tất cả những buồn thương vừa phải đối mặt ở phía trước và ngả mũ kính chào trước niềm đam mê. Tuy nhiên, những khoảnh khắc ngọt ngào không kéo dài lâu, Kurosawa nhanh chóng đưa người xem vào những giấc mơ mới, đau đớn và phũ phàng hơn. Giờ đây, nó không còn là những ám ảnh tâm tưởng mà nó là hiện thực phũ phàng với một loạt những nỗi đau lớn. Nỗi đau gắn liền với thảm họa phóng xạ hạt nhân. Mở đầu bằng hình ảnh núi Phú Sĩ phun lửa, Kurosawa có cái cớ để tạo nên một phép so sánh rằng thảm họa thiên nhiên kinh khủng ấy vẫn không khủng khiếp bằng việc từng lò hạt nhân đang nổ. Những sản phẩm của con người giờ đây đang giết chết chính con người. Có lẽ, cũng chính bởi vì thế mà Kurosawa đã để dành không gian của hai giấc mơ cho cùng một chủ đề về sự tàn phá của phóng xạ hạt nhân. Nó là sự biến đổi một cách kinh hoàng từ những con người thành con quỷ với những chiếc sừng, với nỗi đau quằn quại, sự xuất hiện của những bông hoa bồ công anh lớn cao hơn cả người,… Tất cả là một sự trả giá quá lớn với con người cho những gì mình đã tạo ra.
Đặt trong thế đối lập với thảm họa hạt nhân do con người tạo ra bởi chính những ham muốn tiện nghi của mình, giấc mơ cuối cùng, giấc mơ số tám “Ngôi làng của những chiếc cối xay nước” lại là sự trở về thiên nhiên của nhân vật, của Kurosawa. Trong hành trình của mình, nhân vật đã đi từ nơi mà những con quỷ đang than khóc để đến với ngôi làng đầy màu xanh của cây cỏ và rộn rã sắc màu của những loài hoa. Ở đây, con người từ chối sự tiện nghi, quên đi ánh sáng đèn điện để thấy rõ hơn những vì sao. Ở đây, người ta vui vẻ tham gia vào lễ rước để tiễn đưa những người già đã mất bởi họ đã sống một cuộc sống hạnh phúc trong thế giới thiên nhiên của mình. Ngôi làng không có tên, hình ảnh bao trùm ngôi làng chỉ là những chiếc cối xay nước -  đó thực sự là ngôi làng của cuộc sống tự nhiên, nơi mà những giá trị của cuộc sống trong lành nhất được tôn vinh. Không còn sự ồn ào, không còn nỗi đau, ngôi làng là sự yên ả và niềm hạnh phúc của cuộc sống gần gũi với đất trời. Giấc mơ cuối cùng của bộ phim giống như chiếc “Cầu vồng” mà cậu bé năm xưa giờ đã tìm thấy sau một hành trình dài. Sau quá nhiều gian khổ, buồn đau, mất mát, cậu bé năm xưa giờ đã tìm thấy được chiếc cầu vồng đẹp, tự nhiên của mình. Giấc mơ cuối là một cái nhìn tươi sáng hơn của Kurosawa. Nó kết nối với giấc mơ đầu tiên tạo nên kết cầu vòng tròn đầy trong sáng, nhẹ nhàng cho bộ phim. Nó cũng phản ánh cái nhìn đầy lạc quan tin tưởng của con người Nhật – những người luôn tìm thấy niềm hạnh phúc bằng một ý chí mãnh liệt trong hoàn cảnh khổ đau nhất.
Akira Kurosawa’ s Dreams gồm tám giấc mơ song thực chất nó là một giấc mơ lớn – một giấc mơ hiện thực mà ở đó dung chứa một cuộc hành trình dài của đời con người, từ thuở bé thơ cho đến lúc trưởng thành và về già. Trong hành trình giấc mơ – hành trình tâm tưởng ấy, con người đương đầu, đối mặt – giải quyết và lưu giữ tất cả những kí ức, từ đẹp đẽ đến buồn đau. Và đi cùng với nó, là những bài học lớn được rút ra từ những trải nghiệm. Akira Kurosawa’s Dreams vừa là giấc mơ vừa là hiện thực của chính cuộc đời Kurosawa nói riêng cũng như những người dân xứ sở hoa anh đào nói chung.
Với “Akira Kurosawa’s Dreams”, Kurosawa cũng đã thể hiện được những kỹ thuật làm phim hết sức độc đáo, riêng biệt của ông. Có thể nhận thấy, bộ phim bao gồm tám câu chuyện ngắn mà ở đó có thể tạm chia ra làm hai phân đoạn lớn. Phân đoạn đầu bao gồm bốn câu chuyện – bốn giấc mơ. Những câu chuyện – giấc mơ này mang nhiều yếu tố tâm lí tinh thần của cá nhân, nhấn mạnh đến đời sống nội tâm, tư tưởng. Trong khi đó, bốn giấc mơ sau mang nhiều yếu tố xã hội. Đáng lưu ý hơn chính là sự cân bằng của các giấc mơ ngọt ngào, lãng mạn với những giấc mơ đau thương: 2/2 – 2/2. Sự cân bằng này không chỉ giúp cho người xem cảm nhận được những trải nghiệm khác nhau trong giấc mơ – hiện thực của Kurosawa mà còn tạo ra những hình thức biểu hiện rất khác biệt về mặt nghệ thuật. Bên cạnh những đặc trưng cơ bản trong kỹ thuật phim của mình như sử dụng nhiều máy quay đối thoại, sử dụng những hiệu ứng phóng to đột ngột, cắt nhỏ mà không thay đổi ống kính máy quay hay ống kính quay xa để khiến cho nhân vật trông tự nhiên hơn, Kurosawa còn cho người xem thấy mình thực sự là một phù thủy sắc màu qua các thước phim của Dreams. Với những kiến thức căn bản được đào tạo để trở thành họa sĩ, Kurosawa rất cầu kì, đặt nhiều sự chú ý cho việc phối màu trang phục và phối cảnh. Cũng chính ở điểm này, Kurosawa đã mang theo cả văn hóa Nhật vào phim của mình.
Trong những giấc mơ “Cầu vồng”, “Giấc mơ vườn đào”, “Đàn quạ”, “Ngôi làng của những cối xay nước”, người xem như lạc vào thế giới của những sắc màu rực rỡ, nổi bật, đầy tươi sáng. Đó là sự kết hợp của rất nhiều gam màu sáng khác nhau, cho cảm giác mỗi khuôn hình như là một bức tranh được vẽ cầu kì. Từ bối cảnh thiên nhiên cho đến trang phục của nhân vật đều được Kurosawa chú ý về sự phối kết màu sắc sao cho vừa hài hòa, vừa đối lập tạo nên một sự ấn tượng về mặt thị giác. Ví như trong “Giấc mơ vườn đào”, Kurosawa đã khiến người xem ngỡ ngàng khi tạo dựng cả một thế giới búp bê bằng người thật, sống động đầy sắc màu trên nền xanh bậc thang của vườn đào. Sắc cam, sắc trắng, sắc đen,… của trang phục, của lối trang điểm cầu kì đậm chất Nhật vô cùng nổi bật trên nền xanh của của cỏ. Hay như trong “Ngôi làng của những cối xay nước”, người xem được lạc vào thế giới của tự nhiên với màu sắc của cây cỏ, hoa lá và ánh sáng trắng của tự nhiên.
Ngược lại với những giấc mơ ấm áp, lãng mạn đầy sắc màu, trong những giấc mơ về nỗi đau, sự mất mát, Kurosawa dẫn dụ người xem vào một thế giới như bị mê hoặc bởi sự xám ngắt của ám ảnh, sự lạnh lẽo, u tối của những khó khăn, khổ đau. Người xem bị chìm trong màn tuyết dày đặc, lạnh lẽo, xám xịt cùng “Bão tuyết”, rợn người trước những khuôn mặt xanh thấm đẫm buồn đau của những âm hồn người lính trong “Đường hầm” và thực sự chìm đắm trong những gam màu của địa ngục với “Núi Phú Sĩ rực lửa” – “Bầy quỷ than khóc”. Gam màu chủ đạo trong hai giấc mơ cùng một chủ đề trên là sắc đỏ của sự thiêu đốt hòa lẫn trong sắc đen xám, u ám, lạnh lẽo. Việc xử lí sắc màu đã góp phần rất lớn vào việc truyền tải ý nghĩa nội dụng, bởi phải chăng hành trình trong cuộc đời của mỗi con người cũng chính là hành trình đi tìm những gam màu sáng của cuộc đời. Tất cả những xử lý về màu sắc khi kết hợp với những cú máy quay dài, ít cắt cảnh đã giúp Kurosawa dẫn dụ người xem vào hành trình của những giấc mơ – hành trình của cuộc sống hiện thực với Akira Kurosawa’s Dreams.